Hiếm muộn

Các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản

Từ thập niên 1980 các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản đóng vai trò quan trọng trong điều trị vô sinh. Những kỹ thuật này liên quan đến các thao tác với tinh trùng và trứng để cải thiện cơ hội thụ thai. ART thường được chỉ định cho những trường hợp vô sinh có nguyên nhân nhưng thất bại với các phương pháp điều trị thông thường hoặc vô sinh không rõ nguyên nhân. Hiện nay có ba phương pháp hỗ trợ sinh sản.

1. Bơm tinh trùng vào buồng tử cung (Intra Uterine Insemination: IUI).

UIU thường là bước trị liệu đàu tiên sau khi tất cả các biện pháp điều trị thông thường đều không đưa đến thai kỳ. Vào thời điểm trứng rụng tinh trùng được chuẩn bị từ tinh dịch và cô đặc lấy ra phần tinh trùng được bơm vào trong buồng tử cung qua một ống thông nhỏ. Điều này giúp tinh trùng vào đường sinh sản cao, gần vòi trứng, nơi sự thụ tinh diễn ra. Bơm tinh dịch vào buồng tử cung là chống chỉ định tuyệt đối do các chất prostaglandins trong tinh dịch có thể gây ra co thắt tử cung nặng và nguy cơ nhiễm trùng vùng chậu có thể xảy ra do các vi trùng có trong tinh dịch. Người vợ có thể dùng thuốc kích thích trứng và thuốc điều khiển sự rụng trứng để có nhiều trứng rụng và thời điểm trứng rụng xảy ra chính xác hơn. Khoảng 10 – 15% cặp vợ chồng chọn lọc dùng phương pháp này sẽ có thai.

2. Thụ tinh trong ống nghiệm (In Vitro Fertilization: IVF)

IVF liên quan đến việc phối hợp giữa trứng thu được và tinh trùng đã được chuẩn bị trong môi trường nhân tạo. Trứng được lấy qua sự chọc hút dưới hướng dẫn của siêu âm truớc khi sự rụng trứng xảy ra. Phôi sẽ được đưa vào buồng tử cung 2 – 3 ngày sau khi sự thụ tinh diễn ra hoặc được trữ lạnh nếu có chất lượng tốt. Tỉ lệ thành công của IVF phụ thuộc vào chất lượng của trứng và tinh trùng. Thai kỳ sẽ diễn ra khoảng 20 – 30% trường hợp. Phương pháp này thường được chỉ định  khi chất lượng tinh trùng đủ tốt và thất bại với phương pháp IUI.

3. Bơm tinh trùng vào bào tương của trứng (Intracytoplasmic Sperm Injection: ICSI).

Trong trường hợp có quá ít tinh trùng trong tinh dịch hoặc tinh trùng cho thấy kém khả năng thụ tinh (tinh trùng đuợc lấy từ mào tinh) thì nên thực hiện phương pháp ICSI. Phương pháp này đòi hỏi trang bị vi thủ thuật tinh tế để tiêm một tinh trùng vào trong bào tương của trứng thu được. Điều này giúp tinh trùng vượt qua các rào cản thụ tinh cơ học. Phương pháp ICSI đặc bịêt có ích khi bệnh nhân bị thiểu tinh nặng hoặc khi tinh trùng suy yếu. Sự thụ tinh diễn ra trong khoảng 70% trường hợp và khoảng 50% thai kỳ sẽ diễn ra sau khi đưa phôi vào buồng tử cung.

Các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản trên tuy có nhiều tiến bộ nhưng chưa làm hài lòng thầy thuốc và bệnh nhân, tuy nhiên các kỹ thuật này, đặc biệt là ICSI đã mở ra nhiều hy vọng cho nhưng cặp vợ chồng vô sinh mà có lúc tưởng chừng như đã tuyệt vọng.

BS.CK1 Phó Minh Tín

Phòng Khám Nam Khoa Bệnh Viện ĐHYD TPHCM

Khám ngoài giờ

407 Hậu Giang, P 11, Quận 6

ĐT: 02862900272-0985134604

www.phongkham407.com